Nông dân lãi 30%: Ngoài tầm tay!

Phải giữ giá vật tư nông nghiệp ổn định và tăng cường kiểm soát thị trường lĩnh vực này để người trồng lúa có lợi nhuận nhiều hơn

Tại buổi làm việc với Tổng Công ty Lương thực miền Nam và Tổng Công ty Lương thực miền Bắc vào đầu tháng 3-2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo 2 đơn vị này phải thu mua hết lúa tồn đọng trong dân, bảo đảm cho nông dân có mức lãi hợp lý, khoảng 30%. Nhiều tuần nay, người trồng lúa đã phấn khởi trở lại khi các tổng công ty tuân thủ chỉ đạo của Thủ tướng. Song, niềm vui đó chẳng tày gang, nông dân cả nước nói chung, đặc biệt là ở ĐBSCL, đang phải đối diện với nỗi lo mới: Giá phân bón, thuốc trừ sâu và nhiều loại vật tư nông nghiệp (VTNN) đồng loạt tăng. Như vậy, mục tiêu bảo đảm cho nông dân có lãi 30% có thành hiện thực?

Giá vật tư nông nghiệp tăng cao kéo giá thành sản xuất tăng theo khiến mục tiêu đạt được mức lãi 30% của nông dân trồng lúa ngày càng xa. Trong ảnh: Đưa phân bón nhập khẩu từ TPHCM về ĐBSCL tiêu thụ. Ảnh: H.THÚY


Tăng giá không hợp lý

Dù giá bán các loại VTNN nói chung tăng chưa mạnh bằng cùng kỳ năm ngoái nhưng tăng vào thời điểm này là rất bất lợi cho nông dân.

 

Nhà nước cần mở cơ chế cho các doanh nghiệp mạnh dạn tìm thị trường, tự đàm phán hợp đồng xuất khẩu gạo, tự quyết định giá..., tránh phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ quan quản lý. Nhờ vậy, lợi nhuận sẽ ít bị chia sẻ hơn, nông dân được chia phần nhiều hơn.

Kể từ đầu vụ đông xuân vừa qua, theo chỉ đạo của các cơ quan quản lý, nông dân ĐBSCL chuyển từ giống lúa IR 50404 sang trồng các giống chất lượng cao như OM 4900, Jasmine..., tốn chi phí rất lớn. Với IR 50404, giá thành sản xuất 1 kg lúa khoảng 3.000 đồng, giá bán 4.500 đồng; còn OM 4900 hay Jasmine, giá thành khoảng 3.800 đồng - 4.000 đồng nhưng giá bán chỉ khoảng 4.800 đồng - 5.000 đồng/kg. Về năng suất, IR 50404 cao hơn với ít nhất 6 tấn/ha, trong khi các giống lúa chất lượng cao chỉ khoảng 4 tấn/ha. So sánh giá bán và giá thành cũng như năng suất, có thể thấy khả năng đạt mức lãi 30% của nông dân là ngoài tầm tay. Đặc biệt, khi giá VTNN tăng cao như hiện nay kéo giá thành sản xuất tăng theo khiến mục tiêu đạt được mức lãi đó càng ngày càng xa hiện thực.

Trong lúc đa số nông dân đã chuyển từ giống IR 50404 sang trồng các giống lúa chất lượng cao thì thêm một nghịch lý nữa xảy ra: Thương lái gom gạo IR 50404 để bán cho các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu do lợi nhuận cao (giá xuất khẩu FOB khoảng 400 USD/tấn). Dù không được chuộng ở các thị trường cao cấp nhưng ở các thị trường bình dân như Philippines, Indonesia hay các nước châu Phi, theo tìm hiểu của tôi, loại gạo này vẫn được mua “ào ào”. Kết cục, lợi nhuận phần lớn chảy về túi doanh giới, còn nông dân hưởng lợi rất ít.


Siết chặt quản lý thị trường

Quản lý thị trường (QLTT) về phân bón và các loại VTNN nói chung ở ta lâu nay chưa chặt. Tôi có người bạn công tác ở Viện Lúa Quốc tế, cách nay không lâu sang TPHCM mua 20 loại thuốc trừ sâu sản xuất tại VN để mang qua Campuchia. Thấy hiệu quả sử dụng kém, ông ta mang mẫu về Úc nhờ cơ quan chuyên môn phân tích, qua đó phát hiện tới... 18/20 loại có thành phần hóa chất không đúng như in trên nhãn mác! Từ đó có thể khẳng định ngoài những rủi ro từ giá lúa, nông dân luôn phải đối mặt với những bất lợi từ gian thương chuyên doanh VTNN.


Các công ty VTNN nại lý do chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng nên giá bán tăng, buộc người mua (nông dân) phải chịu. Trong khi nông dân mua phải vật tư dỏm của DN, DN đó (nếu bị phát hiện) chỉ bị xử phạt hành chính với mức rất thấp (vài triệu đồng). Từ đó, các cơ quan chức năng hữu quan, cụ thể là QLTT, phải kịp thời can thiệp mạnh tay hơn nữa để minh bạch hóa chuyện tăng giá nói trên, cũng là cách cứu nông dân. Một giải pháp khả dụng là nên quy định nông dân mua VTNN từ các đại lý, DN... phải lấy hóa đơn tài chính. Từ hóa đơn đó, cơ quan QLTT sẽ giám sát giá bán, theo dõi chặt sổ sách của bên bán; đồng thời, nếu phát hiện hàng giả, hàng dỏm sẽ dễ dàng “nắm đầu” gian thương để phạt thật nặng, buộc đền bù thiệt hại cho nông dân. Có như thế mới mong nông dân không bị thiệt.